36phophuong.vn      Thang long HN
Trang chủ
Xa lộ thông tin
Cuộc sống
Thăng Long-Hà Nội
 Khám phá Hà Nội
 Hà Nội xưa và nay
 Làng nghề
Phố Hà Nội
Những giá trị bảo tồn
Nét văn hóa
Cải tạo, tu bổ, bảo tồn
Quy hoạch - Đô thị
Địa ốc-phong thủy
Diễn đàn
Người đẹp
Thời trang
Du lịch
Thể thao-Sức khỏe
Ẩm thực
Thư giãn
Mỹ Thuật
Âm nhạc
Trang ảnh xưa
Góc chụp ảnh
Trang chủ > Thăng Long-Hà Nội >
  Hà Nội kỷ nguyên độc lập: Hà Nội thời tạm chiếm (1947 – 1954) Hà Nội kỷ nguyên độc lập: Hà Nội thời tạm chiếm (1947 – 1954) , 36phophuong.vn
 
Hà Nội kỷ nguyên độc lập:  Hà Nội thời tạm chiếm (1947 – 1954)

 Hà Nội chỉ lọt vào tay địch sau đêm 14-2-1947, thời điểm lực lượng chiến đấu cuối cùng ở Liên khu I - là Trung đoàn Thủ đô - được lệnh rút ra ngoài.

 

 

Sau khi kiểm soát được thành phố, chúng gom dân, gồm những người mắc kẹt ở các khu phố và dân ven thành, dọn dẹp hậu quả của chiến sự, lập ra bộ máy ngụy quyền. Tháng 3-1948, chúng chỉ định được một thị trưởng bù nhìn để tổ chức lại cuộc sống đô thành.

Số dân ở vùng có chiến sự ác liệt và số dân tản cư ra vùng tự do gặp những khó khăn vì sinh nhai phải dồn về thành phố. Bà con vùng ngoại thành cũng trở về làng quê để sản xuất làm ăn. Những hoạt động kinh tế và văn hóa hồi sinh. Hàng ngoại nhập vào nhiều. Vài nhà máy phục vụ nhu cầu sinh hoạt và cần thiết cho chiến tranh hoạt động trở lại.

Trường học mở cửa. Báo chí xuất hiện. Dân số nội thành cuối năm 1948 là 15 vạn, đến năm 1951 là 30 vạn. Chủ yếu là những người buôn bán, trí thức và dân lao động. Trừ một số mại bản và tay sai địch, còn đại bộ phận nhân dân tuy sống trong lòng địch nhưng vẫn hướng về kháng chiến. Thực dân thì vừa giở các mánh lới xảo quyệt để giành quần chúng và dụ dỗ thanh niên vào lính ngụy, vừa ra sức trấn áp các cuộc đấu tranh của nhân dân.

Nhưng do Đảng bộ vận động quần chúng có hiệu quả, các cơ sở cách mạng trong nhân dân nội và ngoại thành ngày một phát triển. Ở nội thành những công nhân đường sắt, nhà máy xe lửa, cảng Phà Đen đã tổ chức việc nắm tin tức của địch và đưa đón cán bộ ra vào thành phố. Giới tiểu thương ở các chợ, nhất là chợ Đồng Xuân đứng lên chống thuế, học sinh các trường trung học tổ chức rải truyền đơn vạch tội thực dân, thông tin liên lạc và lợi dụng những cơ hội hợp pháp tập hợp lực lượng đấu tranh chống các chính sách phản động, tàn bạo. Tháng 7-1952, công nhân nhà máy đèn Bờ Hồ đã đấu tranh đòi Pháp phải ấn định lương tối thiểu và bán gạo rẻ. Tháng 12-1952, giặc dùng trường Sinh Từ (nay là trường cấp 2 Lý Thường Kiệt) làm trại tập trung các thanh niên bị chúng bắt đi lính. Gần 400 người trong trại đã tuyệt thực phản đối chính sách bắt ép đi lính, phối hợp với nhân dân cản xe chở lính ra mặt trận, kết quả, mấy chục người trốn thoát.

Ở ngoại thành, nhiều nơi phong trào lên dần. Nhân dân xã Nam Hồng, huyện Đông Anh đã đào mấy trăm hầm bí mật, mấy nghìn hố tác chiến cá nhân và hàng chục ki-lô-mét hầm hào chiến đấu và hầm hào giao thông. Một số xã sát nội thành như Hoằng Liệt (Thanh Trì), Đông Ngạc (Từ Liêm) cũng tìm mọi cách giữ thanh niên không cho làm lính hương dõng, bảo an; không nộp thuế, không đắp đường, xây bốt...

Tới đầu năm 1954, phong trào quần chúng càng phát triển, đặc biệt từ tháng 3-1954 để phối hợp với chiến dịch Điện Biên Phủ, Đảng bộ thành phố có những chủ trương đẩy mạnh phong trào đấu tranh trên nhiều mặt để làm nội tình quân địch bị rối loạn. Chẳng hạn, việc đột kích sân bay Gia Lâm (4-3-1954); việc quân dân Gia Lâm trên quốc lộ 5 lật nhào một đoàn tàu chở vũ khí và lương thực mà địch sẽ chuyển lên chiến trường Điện Biên (4-4-1954). Hoặc cuối tháng 4-1954, công nhân trong kho quân nhu của địch đốt phá nhiều dù và quân trang quân dụng.

Đảng bộ thành phố còn lãnh đạo cán bộ dân vận nội thành vận động trí thức Hà Nội hưởng ứng bản kiến nghị đòi lập lại hòa bình của trí thức Sài Gòn bằng cách cũng có kiến nghị tương tự. Và thế là trong tháng 4/1954, một số trí thức có tên tuổi ở Hà Nội đã soạn và ký bản kiến nghị gửi quân đội Pháp và ngụy quyền đòi phải chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình. Bản kiến nghị đã được chuyển sang Pháp, được các báo chí ở Paris đăng toàn văn.

Cuộc vận động kiến nghị hòa bình cũng được phát động trong các tầng lớp nhân dân và phát triển nhanh chóng. Đến tháng 6-1954, cuộc vận động đã thu hút được hàng vạn chữ ký. Ngoài công nhân, nhân dân lao động, thanh niên, học sinh, sinh viên, trí thức, cả ngụy binh, cảnh binh, công chức cũng tham gia ký.

Đầu tháng 5-1954, cán bộ dân vận nội thành cùng một số người làm văn nghệ mua giấy phép có sẵn ra tờ Dân ý với tôn chỉ “Phục vụ văn hóa lành mạnh, chống văn hóa dâm ô trụy lạc”, nhưng thực chất là để đưa các tin tổng hợp về Hội nghị Genève.

Phong trào đấu tranh của nhân dân Hà Nội, đấu tranh kinh tế, văn hóa kết hợp với đấu tranh chính trị và những hoạt động quân sự đã tiến công quân thù ở ngay sào huyệt của chúng và giành được thắng lợi to lớn.

*

*            *

Về văn hóa văn nghệ công khai, nét chủ đạo là thực dân và tay sai có ý thức sử dụng để phục vụ chiến tranh xâm lược của chúng.

Nói đến báo chí thì bên cạnh các báo phản động do Pháp trực tiếp mở như L ’Entente, Thời sự, Ngày mới, Vì dân cũng có những báo chống kháng chiến do tư nhân Việt Nam mở (có nhận ít nhiều tiền của Pháp) như Giang sơnLiên hiệp... Ngoài ra có những tờ báo đứng giữa như Tiểu thuyết thứ bảy của nhà Tân Dân, Phổ thông của Hội ái hữu cựu sinh viên trường Luật...

Theo danh mục báo chí lưu giữ ở Thư viện Quốc gia thì trong 8 năm này, Hà Nội có tới 67 tờ báo tiếng Việt, trong đó rất nhiều tờ chỉ ra 1 số. Đã có lúc thành phố có tới 12 báo hằng ngày và 8 báo tuần. Có nhiều độc giả, số lượng in lớn hơn cả và sống lâu nhất là tờ Tia sáng, do Hiền Nhân - một người có tình cảm với kháng chiến - làm thư ký biên tập, nên nhiều văn nghệ sĩ và cả cán bộ dân vận địch hậu đã lợi dụng diễn đàn này đề cập đến những vấn đề dân sinh, đấu tranh chống thuế, chống đàn áp, bắt lính... nêu tinh thần dân tộc, yêu nước, căm ghét bọn cướp nước và bán nước. Tia sáng đình bản giữa tháng 9-1954, Hiền Nhân được mời ra vùng tự do bàn việc giữ lấy cơ sở của báo để đúng ngày giải phóng Thủ đô ra số đầu tờ Thời mới.

Về sáng tác văn học, các nhà văn lớp tiền chiến đa số bằng tác phẩm phản ánh những nghịch cảnh xã hội phù hoa giả tạo, cổ vũ lòng yêu nước, phê phán lối sống vong bản như Mộng Sơn, Hoàng Công Khanh...

Trong lớp nhà văn mới cũng xuất hiện những kẻ phản động nhưng không nhiều: Trúc Sĩ có Kẽm trống, Triều Đẩu có báo Thế kỷ và cho in 2 cuốn Trên vỉa hè Hà Nội và Tranh tối tranh sáng, Mặc Thu với Bão biển... Còn đa số họ vẫn viết theo thi pháp tiền chiến na ná Tự lực văn đoàn, Phổ thông bán nguyệt san mà nổi nhất là Nguyễn Minh Lang.

Về âm nhạc, nhạc tiền chiến thịnh hành: nhạc Văn Cao, Đặng Thế Phong, Lưu Bách Thụ, Hoàng Giác... Có thêm Ngọc Bích, Đoàn Chuẩn... vẫn theo khuynh hướng trên.

Sân khấu những năm này bế tắc. Các gánh cải lương Kim Chung, Kim Phụng ngoài những vở có từ trước, nay thêm những vở “tuồng Tây”, cốt truyện dựa theo các kịch Tây như Lôi xích (Le Cid),Lộ miêu – Duy liệt (Roméo - Juliette) phục trang theo kiểu La Mã!

Kịch nói, kịch thơ không có đoàn chuyên nghiệp, thường do một nhóm đứng ra làm như Đoàn Phú Tứ, Phan Tại, Ngọc Đình... Các rạp chiếu bóng chủ yếu là phim Pháp, đến 1951 thì phim Mỹ tràn vào.

Lần đầu Hà Nội làm phim, trong hai năm 1953-1954, ba bộ phim đã ra đời: Kiếp hoa của công ty Kim Chung, Bến cũ của hãng An Pha, Nghệ thuật và hạnh phúc của hãng Việt phim. Báo chí và dư luận đã phê bình sự chắp nhặt vá víu, vẽ lại cảnh “tài hoa son trẻ” lỗi thời của những bộ phim này.

Hội họa cũng ở tình trạng tương tự, quẩn quanh với những cô gái đẹp thành thị, cảnh nông thôn thanh bình chẳng ăn nhập gì với không gian, thời gian đương đại.

Để chủ động trong cuộc đấu tranh văn hóa tư tưởng, mặc cho địch khám xét hết sức ngặt, cán bộ ta vẫn tìm cách chuyển những tác phẩm viết về kháng chiến và các sách báo ở ngoài vùng tự do vào. Mặt khác, gặp khi có điều kiện, học sinh, sinh viên Hà Nội thường tổ chức các buổi liên hoan trong các dịp kỷ niệm anh hùng dân tộc như Hai Bà Trưng, Quang Trung... hoặc tổ chức những buổi biểu diễn văn nghệ nhân dịp lễ, tết. Có lần khi tết tới, ở các trường Chu Văn An và Trưng Vương, mở màn buổi liên hoan văn nghệ đầu năm, nhiều nữ sinh mặc áo dài đỏ, ngực cài hoa vàng (tượng trưng cho cờ đỏ sao vàng) và hát bài Trường ca sông Lô. Quần chúng đông đảo đã hoan nghênh và cổ vũ nhiệt liệt.

Công tác báo chí bí mật được Đảng bộ Hà Nội chú ý từ đầu cuộc kháng chiến. Sau này, trong vòng tạm bị địch kiểm soát, Hà Nội vẫn có những báo chí kháng chiến xuất hiện bí mật. Báo Thủ đô (tiền thân của báo Hà Nội mới ngày nay), cơ quan tuyên truyền của Ủy ban kháng chiến khu XI (tức Hà Nội) được xuất bản ngay từ ngày 22 tháng 12 năm 1946. Từ 1949, Đảng bộ Hà Nội có tờ nội san Tiên phong. Mặt trận Việt Minh có tờ Cứu quốc thủ đô, Ban chỉ huy mặt trận Hà Nội có tờQuân thủ đô, Công an có tờ Công an hồ Gươm...

 Các báo Cứu quốc, Thủ đô và từ 1951 cả báo Nhân dân được đưa vào, tuy không nhiều, vẫn được chuyền tay nhau từ cơ sở này sang cơ sở khác, có khi phải cắt ra từng bài để chuyền cho dễ.

Tóm lại, đời sống văn hóa Hà Nội thời tạm chiếm có dòng đục và dòng trong. Dòng đục là phục vụ âm mưu nô dịch hóa và đẩy mạnh chiến tranh của địch. Dòng trong là hoạt động của những người có lương tri, tuy sống trong vùng địch nhưng vẫn hướng về kháng chiến và đặc biệt là sự tồn tại của văn hóa văn nghệ cách mạng, dưới nhiều hình thức đã thức tỉnh mọi người, làm chỗ dựa tinh thần và cổ vũ mọi người đứng lên đấu tranh đánh đuổi thực dân.

Theo Lịch sử Thăng Long - Hà Nội, Nhà xuất bản Trẻ, 2005

 

 


  Bình luận của bạn
(*) Họ tên:  
(*) Email:  
(*) Tiêu đề:  
(*) Nội dung:  
Mã: 
49584

Nội dung các bình luận
 

  Các Tin khác
  + Nỗi niềm làng cổ ven đô (25/08/2011)
  + Định đô Thăng Long – bước trưởng thành vượt bậc của dân tộc (24/08/2011)
  + Chùa Tây Phương (19/08/2011)
  + Từ làng nghề tứ Trấn đến phố nghề Thăng Long (18/08/2011)
  + Diện mạo nhà cửa Hà Nội thời kỳ Pháp tạm chiếm (1947-1954) - Kỳ 2 (17/08/2011)
  + Diện mạo nhà cửa Hà Nội thời kỳ Pháp tạm chiếm (1947-1954) - Kỳ 1 (17/08/2011)
  + Hà Nội kỷ nguyên độc lập: Đời sống xã hội (8-1945 - 12-1946) (17/08/2011)
  + Hà Nội kỷ nguyên độc lập: Xây dựng chính quyền mới (1945- 1946) (17/08/2011)
  + Hà Nội kỷ nguyên độc lập: Kháng chiến chống Pháp (1947 - 1954) (17/08/2011)
  + Hà Nội kỷ nguyên độc lập: Giải phóng Thủ đô (10 - 10 - 1954) (17/08/2011)
 
 
Trang chủ Nội quy Liên hệ Lên đầu trang  
Xa lộ thông tin    Cuộc sống    Thăng Long-Hà Nội    Phố Hà Nội    Những giá trị bảo tồn    Nét văn hóa    Cải tạo, tu bổ, bảo tồn    Quy hoạch - Đô thị    Địa ốc-phong thủy    Diễn đàn    Người đẹp    Thời trang    Du lịch    Thể thao-Sức khỏe    Ẩm thực    Thư giãn    Mỹ Thuật    Âm nhạc    Trang ảnh xưa    Góc chụp ảnh   

vietarch-kiến trúc sáng tạo