36phophuong.vn     
Trang chủ
Xa lộ thông tin
Cuộc sống
Thăng Long-Hà Nội
Phố Hà Nội
Những giá trị bảo tồn
Nét văn hóa
Cải tạo, tu bổ, bảo tồn
Quy hoạch - Đô thị
Địa ốc-phong thủy
Diễn đàn
 Ý kiến cộng đồng
 Ý kiến chuyên gia
 Người nước ngoài nói về Hà Nội
Người đẹp
Thời trang
Du lịch
Thể thao-Sức khỏe
Ẩm thực
Thư giãn
Mỹ Thuật
Âm nhạc
Trang ảnh xưa
Góc chụp ảnh
Trang chủ > Diễn đàn > Ý kiến chuyên gia >
  Khai thác, Bảo tồn đô thị lịch sử: Để phát triển du lịch bền vững Khai thác, Bảo tồn đô thị lịch sử: Để phát triển du lịch bền vững , 36phophuong.vn
 
Khai thác, Bảo tồn đô thị lịch sử: Để phát triển du lịch bền vững

 Hà Nội với các di tích khu phố cổ Hà Nội, khu di tích Hoàng thành Thăng Long, di tích tứ trấn là đền Bạch Mã, đền Voi Phục, đền Quán Thánh, đình Kim Liên... đang chuẩn bị chào đón 1.000 năm tuổi. Không khí chỉnh trang đô thị, tôn tạo, bảo tồn di tích ngày càng khẩn trương. Tuy nhiên, Hà Nội đang cần lời giải đúng cho vấn đề bảo tồn và phát triển...

 

 

 

 

Có thể nhận thấy, đô thị lịch sử của Việt Nam thường phản ánh hoàn cảnh lịch sử của dân tộc thông qua những dấu ấn của quá trình phát triển đô thị (hiểm họa xâm lăng của ngoại bang, điều kiện khí hậu, thời tiết khắc nghiệt, thiên tai lũ lụt liên miên…). Các dấu ấn đó thể hiện qua việc các đô thị lịch sử của Việt Nam được hình thành đều ít nhiều mang tính phòng thủ chống giặc ngoại xâm và phòng tránh lũ lụt, khắc phục úng ngập đô thị. Mặt khác, vị trí địa lý chiến lược cũng tạo điều kiện cho đô thị lịch sử Việt Nam mở rộng giao lưu, tiếp thu có chọn lọc thành tựu quy hoạch phát triển đô thị từ các nền văn minh lớn của nhân loại (Ấn, Hoa, Chămpa, Pháp...), mà dấu ấn để lại rất dễ nhận thấy trong cơ cấu không gian và diện mạo kiến trúc của đô thị thời trung đại và hiện đại của Việt Nam.

Đền Ngọc Sơn - điểm đến của nhiều du khách trong và ngoài nước.

Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập hiện nay, để bảo tồn các đô thị lịch sử ở Việt Nam, chúng ta phải hướng tới việc tôn trọng sự đa dạng văn hóa, bảo vệ và tôn vinh bản sắc văn hóa dân tộc. Đó là, cần tìm ra lời giải đúng cho vấn đề bảo tồn và phát triển. Cần nhận thức đầy đủ về vai trò, ý nghĩa của di sản văn hóa trong phát triển nói chung, phát triển đô thị nói riêng. Không được quá coi trọng phát triển kinh tế, đặt mục tiêu lợi nhuận lên trên hết, mà không lưu ý hoặc không xử lý thỏa đáng yêu cầu bảo tồn di sản văn hóa (vật thể và phi vật thể). Có thể lấy dẫn chứng như trường hợp khu di tích khảo cổ học trung tâm Hoàng thành Thăng Long (Hà Nội), ban đầu khu vực 18 Hoàng Diệu được phê duyệt để xây dựng Trung tâm Hội nghị Quốc gia và nhà làm việc của Quốc hội. Nhưng kết quả khai quật khảo cổ nhằm GPMB xây dựng lại phát lộ dấu ấn phế tích kiến trúc có liên quan tới khu vực Trung tâm Hoàng thành Thăng Long xưa.

Description: http://i.baoxaydung.com.vn/stores/news_dataimages/baoxaydung/112009/12/08/dothi_121109220100725135113.jpg
Đền Bạch Mã - một trong tứ trấn của kinh thành Thăng Long.

Chúng ta đã đứng trước lựa chọn không hề đơn giản là: Di dời các dấu ấn kiến trúc cùng di vật khảo cổ về bảo quản trong bảo tàng để tiếp tục dự án xây dựng đã được phê duyệt hay là dừng hẳn dự án đó để triển khai việc bảo tồn tại chỗ và xây dựng bảo tàng khảo cổ học ngoài trời như kinh nghiệm quốc tế đã thực hiện. Sau khi lắng nghe ý kiến của các nhà khoa học và các cơ quan hữu quan, Chính phủ đã quyết định chuyển địa điểm xây dựng Trung tâm Hội nghị Quốc gia về khu vực Mỹ Đình, khu vực 18 Hoàng Diệu được triển khai một dự án tổng thể xây dựng nhà làm việc của Quốc hội và bảo tồn dấu vết phế tích kiến trúc Kinh thành Thăng Long xưa. Giải pháp lựa chọn trên đã cho phép chúng ta tạo lập tại Khu trung tâm chính trị - văn hóa Ba Đình một công viên lịch sử văn hóa hoàn chỉnh, hội tụ các yếu tố cổ truyền và hiện đại, văn hóa và du lịch. Đây là ví dụ điển hình về quan điểm giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển.

Bên cạnh đó, vấn đề đô thị hóa quá nhanh làm mờ nhạt dần thần thái, diện mạo kiến trúc là cái tạo nên bản sắc của đô thị lịch sử... Một thực tế rõ ràng là, các đô thị lịch sử ở Việt Nam đang có sự mất cân đối giữa nhu cầu phát triển KCN và khu dân cư mới với khả năng phát triển cơ sở hạ tầng của đô thị. Mà một trong những đặc trưng đô thị của Hà Nội là có hình thái “làng trong phố”. Trong từng “làng” của Hà Nội có đầy đủ các thiết chế tôn giáo, tín ngưỡng của một làng xã cổ truyền Việt Nam. Trong quá trình đô thị hóa, hầu hết các làng đã biến thành phố, phường như làng Khương Thượng (Đống Đa), làng Ngọc Hà, làng Đại Yên (Ba Đình)… Làng đã thành phố phường, kéo theo việc chuyển đổi phương thức canh tác nông nghiệp sang thương mại, buôn bán lẻ, làm công nhân công nghiệp hoặc công chức Nhà nước. Theo đó là quá trình hình thành lối sống thành thị, với nhu cầu cải tạo, mở rộng nhà cũ, xây dựng nhà mới, làm cho cảnh quan văn hóa xung quanh di tích bị biến dạng, bị thu hẹp lại, thậm chí còn bị lấn chiếm. Từ chỗ là không gian văn hóa truyền thống của làng xã, nay đình, đền, chùa cũ chỉ còn làm chức năng tín ngưỡng thuần túy. Nhà cửa nhiều tầng mọc lên quây kín, lấn sát và thu hẹp không gian văn hóa của di tích làm cho các lễ hội truyền thống như rước kiệu thánh… không còn không gian tiếp diễn. Cho nên phải kiểm soát được tốc độ đô thị hóa để bảo tồn bản sắc của đô thị lịch sử.

Description: http://i.baoxaydung.com.vn/stores/news_dataimages/baoxaydung/112009/12/08/dothi_121109320100725135114.jpg
Đền Quán Thánh (Ba Đình, Hà Nội).

Quy hoạch đô thị nói chung và quy hoạch chi tiết xây dựng các điểm dân cư trong các đô thị lịch sử còn nặng tính lý thuyết, chưa quan tâm đầy đủ tới cảnh quan sinh thái nhân văn và nhu cầu của cộng đồng cư dân đô thị - những nhân tố xác lập tiền đề quan trọng cho mọi quy hoạch đô thị, đồng thời cũng là những đối tượng chịu tác động trực tiếp từ các ý tưởng và giải pháp đặt ra trong quy hoạch. Đó cũng là thực tế rất đáng quan ngại. Hà Nội vốn tự hào là TP của những dòng sông, hồ nước và cây xanh - những dòng sông vừa làm chức năng phòng thủ, tưới, tiêu nước, vừa có vai trò giao thông, kết nối các khu vực trong đô thị cũng như liên vùng lãnh thổ rộng lớn; những công viên, những đường phố - hàng cây là yếu tố tạo ra vẻ đẹp hấp dẫn cũng như cảnh quan văn hóa của Thăng Long xưa, của Hà Nội hôm nay và cả mai sau. Nét cảnh quan ưu việt đó không những không được lưu giữ và phát huy mà còn bị cống hóa để làm hệ thống thoát nước ngầm và sử dụng bề mặt làm đường giao thông. Sông Kim Ngưu, sông Tô Lịch còn đâu dáng vẻ yêu kiều, lãng mạn, ngược lại, đang ở trong tình trạng báo động ô nhiễm nặng nề. Nhà dân thì thường xuyên được “tôn nền cao thêm” để “tương xứng” với những đường phố liên tiếp được trải nhựa nâng cao hết lớp này đến lớp khác. Hệ lụy là khuôn viên đình, đền, chùa, miếu hóa thành ô trũng chứa nước, khi mùa mưa tới thì đường và nhà dân chưa ngập thì di tích lịch sử văn hóa đã bị ngập lụt trước và là nơi rút nước cuối cùng. Hiện tượng trên chứng tỏ các ý tưởng quy hoạch hình thành qua các giai đoạn phát triển đã không được tôn trọng và do đó, đã đến lúc chúng ta cần suy nghĩ tới giải pháp từng bước phục hồi các khu vực cảnh quan văn hóa đô thị vốn từng nổi danh trong lịch sử.

Vấn đề bảo tồn di sản văn hóa trong quá trình phát triển cần được tiếp cận tổng hợp, liên ngành, từ vĩ mô đến vi mô, tiếp cận, xử lý từ cái nhìn tổng thể di sản kiến trúc đô thị chứ không phải là từng di tích đơn lẻ. Trong cơ cấu không gian của Thăng Long - Hà Nội, “khu phố cổ” 36 phố phường, mà phần lớn là phố nghề và phố buôn bán thương mại, bao giờ cũng được coi là bộ phận cấu thành quan trọng, làm nên nét nổi trội ít thấy ở các TP trên thế giới. Đường phố, ngõ phố và sự liên kết của chúng với mạng lưới các làng nghề vùng châu thổ Bắc bộ làm nên sự sống động, phồn thịnh cho khu phố cổ xưa và nay. Đặc thù trên không cho phép chúng ta áp dụng máy móc các nguyên tắc bảo tồn di tích lịch sử, văn hóa đơn lẻ vào trường hợp “Khu phố cổ Hà Nội”.

Rõ ràng là, từ cái nhìn tổng thể di sản kiến trúc đô thị, việc quy hoạch chi tiết bảo tồn và phát triển phải xác định giải pháp cụ thể, phù hợp với từng ô phố cụ thể, đảm bảo rằng các giải pháp đó được xuất phát từ chức năng, từ nhu cầu của cộng đồng cư dân đô thị cũng như các chủ sở hữu di tích. Di sản phải gắn bó với cộng đồng dân cư, phục vụ lợi ích của họ cả về vật chất và tinh thần, tôn trọng điều đó cũng có nghĩa phải chấp nhận sự thay đổi, cải tạo, thích nghi, phục hồi, thậm chí xây mới ở một số khu vực cụ thể.v

Trần Chiến ThắngThứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

 


  Bình luận của bạn
(*) Họ tên:  
(*) Email:  
(*) Tiêu đề:  
(*) Nội dung:  
Mã: 
39113

Nội dung các bình luận
 

  Các Tin khác
  + GS Đặng Hùng Võ: “Người bị thu hồi đất sao chịu thấu” (31/08/2011)
  + Đối kháng với Trung Quốc chính là định mệnh của Việt Nam? (25/08/2011)
  + "Muốn có tầng lớp trí thức, phải có tự do học thuật" (18/08/2011)
  + Một người Mỹ "khám phá lại" Hà Nội (18/08/2011)
  + Cần dân chủ và minh bạch khi giãn dân phố cổ (17/08/2011)
  + Có thể là đại quy hoạch treo trong đề án quy hoạch Hà Nội 2030 - 2050 (17/08/2011)
  + Tư duy “quy hoạch nhiệm kỳ” (12/08/2011)
  + Báo động "văn hóa làng Việt’! (10/08/2011)
  + Chợ Hà Nội hôm nay và ngày mai (09/08/2011)
  + Không nên học đòi phát triển sân golf (08/08/2011)
 
 
Trang chủ Nội quy Liên hệ Lên đầu trang  
Xa lộ thông tin    Cuộc sống    Thăng Long-Hà Nội    Phố Hà Nội    Những giá trị bảo tồn    Nét văn hóa    Cải tạo, tu bổ, bảo tồn    Quy hoạch - Đô thị    Địa ốc-phong thủy    Diễn đàn    Người đẹp    Thời trang    Du lịch    Thể thao-Sức khỏe    Ẩm thực    Thư giãn    Mỹ Thuật    Âm nhạc    Trang ảnh xưa    Góc chụp ảnh   

vietarch-kiến trúc sáng tạo